1. Vùng Duyên hải miền Trung và khu vực Tây Nguyên sau sáp nhập hình thành năm địa phương tỉnh mới: Quảng Ngãi (sáp nhập từ 2 tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum), Gia Lai (sáp nhập từ 2 tỉnh Gia Lai và Bình Định), Đắk Lắk (sáp nhập từ 2 tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên), Lâm Đồng (sáp nhập từ 3 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận) và Khánh Hòa (sáp nhập từ 2 tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận). Núi càng liền núi sông càng liền sông. Năm tỉnh mới có tổng diện tích tự nhiên gần 88 ngàn km2, dân số gần 13 triệu người. Sáp nhập theo trục dọc như tỉnh Khánh Hòa hay theo trục ngang như 4 tỉnh còn lại thì mỗi tỉnh mới đều chung một đặc điểm về tính chất địa lý, đó là có núi cao và có biển rộng. Ranh giới hành chính vốn chỉ là tương đối nay hình thái về tự nhiên lại càng không hề có “ranh giới”.

Đại ngàn xanh Tây Nguyên
Kho tàng tri thức xa xưa của đồng bào các dân tộc bản xứ khu vực Tây Nguyên còn lưu lại tại những trang sử thi và những bài hát cổ cho chúng ta hiểu hơn một lần rằng, đã từng có những dòng lưu dân thuộc ngữ hệ Mon-Khmer rời các lục địa xa xôi tìm vùng đất cao nguyên để định cư và có cả những dòng người thuộc ngữ hệ Malayo-Polynesia từ đại dương vào đất liền sinh sống. Sự dịch chuyển ấy của thời tiền sử là nền móng cho bây giờ nơi dải cao nguyên Nam Trường Sơn và vùng ven biển Nam Trung Bộ đã và đang tiếp tục sinh sôi phát triển mạnh mẽ về hình ảnh “đất lành chim đậu”. Sự an cư gắn với hồn cốt và những giá trị bản sắc văn hóa vừa riêng biệt vừa giao thoa tiếp biến để thành vùng văn hóa đa sắc thái đa âm thanh, trở thành dư địa du lịch vô cùng quý báu của vùng và của quốc gia. Những dòng chảy và tụ hội văn hóa đó đã lưu lại trong nền văn hóa dân gian (folklore) của các tộc người Chăm, Bana, Jarai, Ê Đê, M’Nông, Churu, K’Ho, Mạ, S’Tiêng…
Mở lại chính sử Việt, hậu thế hôm nay vẫn còn được tiếp nhận khá đầy đủ thông tin một thời con người của hai vùng đất miền rừng và miền biển của khu vực Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên đã hình thành những mối giao kết khăng khít. Hình ảnh “chớp bể” “mưa nguồn” phần nào nói được sự gắn kết, cùng chia sớt tình yêu thương của hai miền sơn thủy.

Nườm nượp thuyền bè đánh bắt hải sản trên biển vùng Nam Trung Bộ
Vào thế kỷ thứ XV đã ghi nhận mối quan hệ giữa hai vùng miền xuôi và miền ngược thông qua sự gắn kết giữa các thủ lĩnh vùng sơn cước với nhà nước phong kiến. Trước khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn chính thức diễn ra vào năm 1771, ba anh em nhà Nguyễn đã ngược lên vùng phía tây đèo An Khê của người Ba Na, người Jrai cư trú để lập căn cứ rèn binh, tích lương…Vùng Thượng Đạo này có căn cứ đầu tiên của nghĩa quân Tây Sơn, ngay trên đỉnh đèo An Khê. Cùng với sự chuẩn bị chu đáo và được đông đảo đồng bào miền Thượng hưởng ứng, thủ lĩnh Nguyễn Nhạc đã hợp quân xây dựng đồn lũy nằm sâu trong núi rừng Tây Nguyên, thuộc xã Yang Nam, huyện An Khê (nay là xã Kông Chro), tỉnh Gia Lai.
2. “Ai về nhắn với nậu nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”. Câu ca dao ấy vốn nằm lòng với người dân miền Trung, nơi tồn tại hai từ “nậu nguồn”, có từ thời bắt đầu hình thành vùng đất Đàng Trong. Nậu, phường, man trước hết là đơn vị hành chính, nhỏ hơn thôn. Về sau từ “nậu” được người lao động ghép lại thành nghĩa chỉ về nhóm người cùng nghề nghiệp: nậu nguồn là nhóm người khai thác lâm sản; nậu rớ (đánh bắt tôm cá bằng cái rớ); nậu nại (làm muối), nậu rỗi (buôn bán cá),… “Ai về nhắn với nậu nguồn”, có vùng đọc là “bạn nguồn”, nhưng từ “bạn” mới hình thành về sau này, vã lại “nậu” mang rõ sắc thái của vùng địa lý.

Cá chuồn miền biển và mít non miền rừng
Ở câu hai, “mít non” hay là “măng le” (gởi xuống) ? Có lập luận “măng le” phù hợp hơn vì miền núi mới có sản vật này còn “mít non” thì miền nào cũng có. Cũng hợp lý đấy, nhưng tôi cho rằng phải là “mít non gởi xuống”. Vì chỉ vùng miền ngược mới có nhiều mít để dùng khi còn non chứ dưới xuôi thì chắc chả mấy nhà dám dùng mà chờ khi quả mít chín mới hạ xuống để thưởng thức.
Vã lại, măng le cũng như các loại măng nói chung là thực phẩm nhiều chất xơ, giàu dinh dưỡng, ngon, nhưng không thể dùng nhiều bởi có tác động tiêu cực đến sức khỏe. Măng chứa hàm lượng purin cao, chả hay ho đối với người bị bệnh về xương khớp; hay chất axit oxali trong măng cũng không hợp với người thiếu canxi…Còn mít non, vượt trội về mặt tích cực đối với sức khỏe người dùng. Mít non và cá chuồn là hai nguyên liệu kết hợp với nhau cùng các thức gia vị và sự khéo léo của người nội trợ để thành món canh hoặc món kho rim đặc biệt ngon bởi tính kết hợp hòa quyện.

Sự quyện hòa đặc sắc của món kho rim mít non và cá chuồn
Sự hợp duyên của “mít” và “cá” còn thấy rõ ở xứ miền Trung, đó là khi những tuần trăng đầu mùa hạ, nơi miền núi no nắng no gió thì cây mít vào chính vụ và ở miền xuôi đây cũng là thời điểm cá chuồn rộ biển. Và trong mâm cơm thân thuộc, bình dân nơi vùng quê món ăn mít non-cá chuồn trở thành thường nhật. Nó, để rồi nhung nhớ, để thành ký ức, thấm đẫm yêu thương của nguồn cội hai vùng đất. Nó, đã đi vào ca dao, không chỉ là tri thức dân gian về ẩm thực mà còn là văn hóa ứng xử nơi mỗi nếp nhà: “Mít non nấu với cá chuồn, Chồng chan vợ húp khen ngon rần rần”.
3. Câu ca dao “mít non” “cá chuồn” tồn tại từ khoảng cuối thế kỷ XVIII và không chỉ là món ăn đặc biệt, mà hơn thế, nó là biểu trưng của nghĩa tình kết nối giữa con người vùng sơn cước với miền duyên hải. Chỉ gói gọn trong 14 từ thôi nhưng là lời nhắn gửi của người miền xuôi với người miền ngược, thông qua việc trao đổi hàng hóa. Nhưng sâu xa là tình người là ân nghĩa… Đó là sự giao hòa của hai vùng đất đai, khí trời, của tâm hồn xứ sở và đó là câu chuyện của mối lương duyên chung thủy.

Trên bàn tiệc hôm nay của các tỉnh Duyên hải miền Trung -Tây Nguyên đậm chất văn hóa nhờ sự kết hợp hài hòa giữa các đặc sản miền rừng và miền biển
Lắng với câu chuyện của “mít non” - “cá chuồn” để rồi ta được quyền thích thú nghĩ đến sự kết hợp từ những sản phẩm của vùng miền non cao và vùng miền biển cả. Cà phê, hồ tiêu, ca cao, mắc ca, sầu riêng, mít, bơ, chanh dây, atisô, rau củ, măng, nấm …của miền rừng và tôm, mực, cua, ghẹ, ốc sò, các loại cá, thanh long, …của miền biển. Những dòng chảy thương phẩm không chỉ mang theo giá trị kinh tế, mà còn mang theo hương vị, tập quán và tinh thần của mỗi vùng đất thân thương. Mâm cơm hôm nay đủ đầy chất bổ, vị ngọt, hương thơm của cha Rừng mẹ Biển ban tặng. Một nồi lẩu đều mang hồn cốt và tổng hòa của sự giao thoa đặc biệt, thú vị và thi vị. Ở đó, thực khách cảm nhận được chất ngon tươi, bổ béo của hải sản, vị mặn mòi của biển khơi quyện hòa cùng đa vị đa sắc từ ngọt, cay, đắng, chát và nõn nà rau củ của miền rừng. Âm, dương hài hòa; hàn, nhiệt cân bằng. Mỗi món ăn như kể câu chuyện về hành trình của đất, của nước và của kẻ rừng kẻ bể. Sự kết tinh về ẩm thực thật đỗi tự nhiên, làm nên chính nhịp sống của cư dân hai vùng đất, định vị một phong cách ẩm thực hiện đại mà vẫn giữ nét tinh tế, trong lành. Trong thẳm sâu tâm thức, mâm cơm hôm nay vừa có rì rào hơi thở đại dương, vừa có long lanh sương đồi, khoáng hoạt gió đại ngàn, có nắng hừng hực vùng cát trắng và nắng lạnh, dịu êm dưới vòm trời mướt màu lục diệp…Chung chiêng và khoáng đạt. Cần mẫn, chịu thương chịu khó và trầm tĩnh, bao dung là những phẩm giá tạo nên bản sắc mộc mạc mà bền bỉ. Mỗi sản vật mang theo ký ức của đất đai, khí hậu và con người.

Đặc sản bơ Tây Nguyên đến với mọi người tiêu dùng
4. Không gian Tây Nguyên-Duyên hải được mở rộng, đất nước đang mở thêm những “mạch máu” mới, những trục mới. Những “mạch máu”, những trục ấy vừa lưu thông hàng hóa, vừa dẫn truyền và quyện hòa về văn hóa, về ký ức và sự trù phú về bản sắc. Từ rừng xuống biển, từ biển lên cao nguyên, sự giao thương sơn thủy hữu tình ấy làm nên một bức tranh phong phú, đa sắc thái trong thể thống nhất vùng cao - vùng xuôi, vùng rừng-vùng biển. Từ những âm vang riêng nay đang trở thành bản hòa tấu đa thanh, đang dần tạo nên một không gian phát triển liên vùng, nơi kinh tế đi cùng văn hóa, sản vật gắn với căn cốt con người.

Rất nhiều loại hải sản vùng Duyên hải miền Trung luôn là lựa chọn hàng đầu của thực đơn khách du lịch
Cùng với hàng hóa, văn hóa ẩm thực và tập quán sinh hoạt hội nhập và lan tỏa, làm giàu cho nhau, bổ sung, nâng đỡ cho nhau, sẽ làm mờ đi những lát cắt về sinh thái đơn lẻ. Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của đại ngàn và của biển cả trở thành dòng chảy lớn, dòng chảy văn hóa ẩm thực. Sự giao lưu hàng hóa vừa tạo động lực kinh tế vừa là nền tảng giao lưu văn hóa, làm giàu bản sắc ẩm thực vùng Tây Nguyên-Duyên hải. Sản vật của rừng của biển giao thương trở thành sự đối thoại để kết hợp giữa các không gian sống. Sự kết duyên của trầm lắng, chắc bền từ rừng và phóng khoáng, mặn mòi từ biển. Giữa hai không gian ấy, con người là nhịp cầu với vai trò gìn giữ bản sắc và sáng tạo ra những giá trị mới. Khi mỗi món ăn, mỗi đặc sản được trân trọng và kể câu chuyện của mình, đó cũng là lúc văn hóa trở thành động lực mềm cho phát triển kinh tế. Không gian liên kết kinh tế - văn hóa, giàu tiềm năng, trao truyền và lan tỏa. Sẽ là định hình những niềm tin vào một tương lai phát triển hài hòa, bền vững, ở đó mỗi vùng đất đều tìm thấy mình trong sự đa dạng chung của Tổ quốc.

Đặc sản sầu riêng Tây Nguyên đã đến với nhiều thị trường trong nước và các quốc gia
5. Các tỉnh vùng Tây Nguyên-Duyên hải phía Tây tựa vào dãy núi Trường Sơn phía Đông trải dài ra biển Đông. Hình dung về thế đất, tọa sơn hướng thủy, lưng tựa núi cao mặt hướng biển rộng, chắc chắn để vươn xa, không chỉ là biểu tượng, ý nguyện mà cả ý nghĩa thực về vật lý. Càng không thể “xa rừng nhạt biển”, mà là một vùng địa văn hóa (Géo-Culture), địa kinh tế với tiềm năng nội sinh trù phú đang được đánh thức mạnh mẽ…
Tỉnh Khánh Hòa sáp nhập theo chiều dọc, duyên hải và trung du, còn 4 tỉnh sáp nhập trục ngang còn có yếu tố đặc biệt là đều giáp với biên giới một hoặc hai quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, đó là Campuchia và Lào. Tôi chợt nhớ đến một nhận định của Giáo sư Trần Quốc Vượng khi liên hệ đến các tỉnh vùng Tây Nguyên - Duyên hải. Giáo sư viết: “Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương (Indo China), chiếm trọn phần Đông bán đảo này nên tính chất bán đảo lại càng nổi bật. Về mặt địa-văn hóa, bản sắc văn hóa Việt là bản sắc bán đảo, tiếp nhận và hội nhập (integration) cả các ảnh hưởng lục địa lẫn các ảnh hưởng hải đảo”. Vâng, tính chất bán đảo thể hiện rõ nét tại năm tỉnh mới: Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Khánh Hòa. Đây cũng là tính chất địa - văn hóa Việt Nam.

Quốc lộ 28 B nối rừng và biển được đầu tư nâng cấp và hoàn thành đầu năm 2026 là một trong những dự án quan trọng của vùng Duyên hải miền Trung-Tây Nguyên
6. Sự tiếp biến và giao thoa văn hóa trong bối cảnh thời đại nào cũng là một quy luật tất yếu. Nhưng xuyên thấm đến mức sâu sắc, tạo thành sự chuyển hóa nhuần nhị trong tổng hòa các mối quan hệ chính trị, văn hóa, kinh tế, lịch sử và đời sống cộng đồng để tác thành những cột mốc giá trị vững bền thì không phải vùng đất nào cũng may mắn có được. Năm tỉnh vùng Duyên hải-Tây Nguyên: Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng đã hình thành thành 5 đơn vị hành chính cấp tỉnh với những màu sắc riêng về phạm vi hành chính nhưng đang vận động trong một chỉnh thể với nhiều đặc điểm chung, tương hỗ cho nhau, liên kết liên vùng. Những chủ nhân của năm tỉnh đang nhận biết rõ dần hệ chân giá trị của địa phương để phát huy và nỗ lực vươn xa cùng đất nước.