Theo Báo cáo thường niên FDI Việt Nam 2025, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2025 đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024 (38,23 tỷ USD). Đây là mức cao thứ hai trong lịch sử thu hút FDI của Việt Nam. Vốn FDI thực hiện đạt 25,35 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2024 – mức giải ngân kỷ lục từ trước đến nay, phản ánh cam kết triển khai thực chất của nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2025 có 4.054 dự án FDI cấp mới (tăng 17,3% so với 2024); 1.495 dự án điều chỉnh vốn (giảm 16,3%) và 2.716 lượt góp vốn, mua cổ phần (giảm 4,4%). Tổng số dự án mới và điều chỉnh đều cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn, dù quy mô bình quân dự án cấp mới giảm (từ 5,8 triệu USD/dự án năm 2024 xuống 4,3 triệu USD/dự án năm 2025).
Lũy kế đến hết năm 2025, Việt Nam đã thu hút được khoảng 521 tỷ USD vốn FDI đăng ký từ hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, với khoảng 43.000 dự án còn hiệu lực, trong đó vốn thực hiện đạt trên 300 tỷ USD.

Dự báo FDI vào năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, hydrogen xanh) sẽ tăng mạnh trong thời gian tới
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, với khoảng hơn 50% tổng vốn đăng ký. Hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 15 – 20% tổng vốn. Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ; cấp nước và xử lý chất thải; bán buôn, bán lẻ cũng nằm trong nhóm ngành thu hút nhiều vốn FDI.
31/34 tỉnh, thành phố trên cả nước có dự án FDI năm 2025. TPHCM tiếp tục dẫn đầu với hơn 7,09 tỷ USD (chiếm 18,5% tổng vốn đăng ký). Bắc Ninh đứng thứ hai với 5,69 tỷ USD (14,8%). Hà Nội vươn lên vị trí thứ ba với 4,44 tỷ USD (11,5%), từ vị trí thứ 7 năm 2024.
10 địa phương dẫn đầu thu hút 32,8 tỷ USD (chiếm 85,4% tổng vốn đăng ký). Đáng chú ý, năm 2025 có thêm Gia Lai và Phú Thọ trong nhóm 10 địa phương đứng đầu (thay thế Nghệ An và Quảng Ninh năm 2024), cho thấy FDI đang được mở rộng về mặt địa lý, không còn chỉ tập trung ở các trung tâm truyền thống.
Theo đánh giá của VAFIE, khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Khu vực này chiếm khoảng 16% vốn đầu tư toàn xã hội nhưng đóng góp khoảng 21% GDP, giữ tỷ trọng rất lớn trong xuất khẩu và tạo ra thặng dư thương mại gần 50 tỷ USD. FDI tiếp tục là một trong những trụ cột giúp ổn định kinh tế vĩ mô, mở rộng việc làm và kết nối Việt Nam sâu hơn với chuỗi giá trị toàn cầu.
Đặc biệt, lần đầu tiên kể từ năm 2021, báo cáo đưa nội dụng đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài. Theo đó, năm 2025, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đạt trên 1,14 tỷ USD, phân bổ vào 36 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang dần trưởng thành hơn, không chỉ là đối tác tiếp nhận công nghệ mà còn từng bước tham gia vào việc mở rộng không gian sản xuất, thương mại và hiện diện thương hiệu trên thị trường quốc tế.
Về dự báo năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030, báo cáo nhận định dòng vốn FDI vào Việt Nam có thể đạt mức 38 – 40 tỷ USD/năm, với sự dịch chuyển rõ rệt sang các lĩnh vực "xanh" và "số". Cụ thể: tiếp tục tăng FDI vào công nghiệp chế biến chế tạo công nghệ cao (bán dẫn, điện tử, thiết bị y tế); FDI vào năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, hydrogen xanh) tăng mạnh; đầu tư vào trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và AI tại Việt Nam ngày càng nhiều; FDI từ Trung Quốc tiếp tục tăng trong bối cảnh chiến lược "China Plus One"; khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế sẽ tạo ra luồng FDI tài chính mới.
Bên cạnh đó, báo cáo cũng cảnh báo các rủi ro: thuế đối ứng của Mỹ 46% có thể làm giảm sức hút của Việt Nam với một số ngành xuất khẩu vào Mỹ; xung đột địa chính trị (Trung Đông, Nga - Ukraine) ảnh hưởng đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng; cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt từ các nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ; rủi ro từ tác động của thuế tối thiểu toàn cầu 15%.
Từ đó, báo cáo đưa ra hệ thống khuyến nghị toàn diện nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thu hút FDI thế hệ mới. Cụ thể, cần hoàn thiện thể chế và pháp luật. Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các luật mới về đầu tư, kinh doanh, đất đai, nhà ở và các luật liên quan phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp. Thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các Bộ, ngành, địa phương. Bổ sung hướng dẫn chi tiết về các cơ chế ưu đãi thay thế ưu đãi thuế truyền thống (bị ảnh hưởng bởi thuế tối thiểu toàn cầu) như ưu đãi bằng tiền mặt, hỗ trợ R&D, đào tạo nhân lực. Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư hiệu quả, minh bạch.
Bên cạnh đó, cần phát triển hạ tầng và logistics: đẩy nhanh đầu tư phát triển hạ tầng giao thông (đường cao tốc, cảng biển, sân bay, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam) nhằm giảm chi phí logistics và nâng cao tính cạnh tranh. Phát triển hạ tầng điện đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất công nghệ cao và trung tâm dữ liệu. Đẩy nhanh triển khai Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII, đặc biệt là phần năng lượng tái tạo. Phát triển khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thế hệ mới gắn với tiêu chuẩn xanh, số.
Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Báo cáo khuyến nghị: tăng quy mô và chất lượng đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên trong các ngành công nghiệp bán dẫn, điện tử, AI, công nghệ thông tin; xây dựng chương trình đào tạo phối hợp giữa nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp FDI; có chính sách thu hút chuyên gia, nhân tài người Việt ở nước ngoài trở về đóng góp; tăng cường đào tạo tiếng Anh và kỹ năng số cho lực lượng lao động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do cũng là một điểm cần quan tâm. Theo đó, cần triển khai nhanh chóng và hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM và Đà Nẵng theo Nghị quyết 222/2025/QH15: ban hành ngay các quy định về cơ chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng khung pháp lý về tài chính xanh, trái phiếu xanh; cơ chế trọng tài quốc tế; tự do hóa ngoại hối trong phạm vi Trung tâm tài chính quốc tế…
Về khu thương mại tự do, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho việc thành lập và hoạt động khu thương mại tự do, kết hợp với các cảng biển, sân bay quốc tế; áp dụng cơ chế "một cửa" thực sự, thủ tục thông quan nhanh; ưu đãi thuế đặc thù trong khu thương mại tự do phù hợp với quy định quốc tế.
Báo cáo cũng khuyến nghị thúc đẩy liên kết FDI và doanh nghiệp trong nước: xây dựng chương trình phát triển công nghiệp phụ trợ có mục tiêu, có nguồn lực; tạo cơ chế kết nối doanh nghiệp FDI với nhà cung cấp Việt Nam qua các trung tâm phát triển nhà cung cấp (Supplier Development Center); khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để tham gia chuỗi cung ứng FDI.
Đồng thời, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn ESG ngày càng được áp dụng rộng rãi và Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, báo cáo khuyến nghị: ưu tiên thu hút FDI vào năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh; xây dựng thị trường carbon, cơ chế trao đổi tín chỉ carbon; hỗ trợ doanh nghiệp FDI và trong nước đáp ứng tiêu chuẩn ESG và báo cáo bền vững; phát triển tài chính xanh (green finance), trái phiếu xanh (green bonds) và phân loại xanh (green taxonomy).
Xúc tiến đầu tư và ngoại giao kinh tế: chủ động và quyết liệt xúc tiến đầu tư FDI thế hệ mới (công nghệ cao, R&D, bán dẫn, AI, năng lượng sạch). Tận dụng quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn để thu hút những tập đoàn đa quốc gia. Đẩy nhanh đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại đối ứng Việt Nam – Mỹ. Tiếp tục tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác hiệu quả các FTA đã có.