Kinh tế xanh

Quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon với đối tác quốc tế

Thứ năm, 2/4/2026 | 16:40 GMT+7
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Nghị định số 112/2026/NĐ-CP quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khác.

Nghị định quy định trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon phải bảo đảm tuân thủ quy định của Thỏa thuận Paris; hỗ trợ phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp tại Việt Nam. Ưu tiên thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo những điều ước quốc tế, cam kết quốc tế. Đồng thời, bảo đảm lợi ích quốc gia và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương nơi thực hiện chương trình, dự án.

Hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia của Việt Nam.

Chính phủ ban hành quy định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon

Nghị định quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon sau khi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp. Kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đã bị thu hồi hoặc hết hiệu lực thì không được chuyển giao quốc tế.

Việc điều chỉnh tương ứng đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được chuyển giao quốc tế (viết tắt là ITMO) giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế được thực hiện theo quy định của Thỏa thuận Paris.

Về tỷ lệ chuyển giao quốc tế, Nghị định quy định rõ 2 trường hợp.

Thứ nhất, trường hợp chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được quy định như sau:

90% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 01 tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này: lĩnh vực năng lượng (điện địa nhiệt, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời không nối lưới, hệ thống lưu trữ năng lượng sử dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến…); quá trình công nghiệp (ứng dụng công nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) hoặc công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon (CCS) trong quá trình công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng và năng lượng; thu giữ CO2 trực tiếp từ không khí…); quản lý chất thải và nước thải; nông nghiệp và chăn nuôi (tuần hoàn chất thải trồng trọt, tưới khô ướt xen kẽ và hệ thống canh tác lúa cải tiến ở vùng có cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ…)…

50% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 02 tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này: năng lượng (nhiệt điện khí chu trình hỗn hợp sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu, điện sinh khối, điện gió gần bờ…); quá trình công nghiệp (sử dụng phụ gia trong sản xuất xi măng; lò hơi sử dụng nhiên liệu sinh khối thay thế lò hơi đốt than/dầu tại những cơ sở không tham gia trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính...); lâm nghiệp (thực hiện REDD+ đối với rừng tự nhiên trên cạn; giảm phát thải và tăng hấp thụ khí nhà kính đối với rừng ngập mặn và thảm cỏ biển; tăng hấp thụ khí nhà kính thông qua cải thiện rừng trồng trên cạn…)…

Thứ hai, trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho một giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đối với tất cả chương trình, dự án. Lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.

Căn cứ tình hình thực tiễn, Bộ quản lý lĩnh vực đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính chuyển giao quốc tế tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Nghị định quy định cơ quan chủ quản chương trình, dự án đầu tư công quyết định việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đó.

Việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công phải lấy ý kiến của Bộ quản lý lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến.

Nguồn thu từ việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon hình thành từ dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) được ghi nhận là doanh thu của dự án PPP và được quản lý theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Đối với các dự án PPP đã được ký kết hợp đồng dự án và/hoặc có phương án tài chính mà có nhu cầu trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon thì cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh hợp đồng dự án PPP và/hoặc phương án tài chính.

Khoản tiền thu được từ việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công là khoản thu ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2026.

Hải Long