Ngày 1/10, S&P Global công bố kết quả Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 9/2026.
Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam giảm xuống 51,9 trong tháng 9 từ mức 53,3 của tháng 8, cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất cải thiện ở mức nhẹ hơn vào thời điểm cuối quý III. Tuy nhiên, các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong suốt 15 tháng qua.
Sản lượng tiếp tục tăng đáng kể trong tháng 9, từ đó tiếp tục chuỗi thời gian tăng bắt đầu từ tháng 5/2025. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại so với tháng 8.

Trong tháng 9/2026, mặc dù tốc độ tăng sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đã chậm lại so với tháng 8 nhưng ngành sản xuất của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng. (Ảnh minh họa)
Các thành viên nhóm khảo sát của S&P Global cho biết số lượng đơn đặt hàng mới tăng là nhân tố giúp tăng sản lượng nhưng tốc độ tăng đã chậm lại. Trên thực tế, mức tăng số lượng đơn đặt hàng mới lần này là yếu nhất trong thời kỳ tăng kéo dài 5 tháng hiện nay. Trong những trường hợp số lượng đơn đặt hàng mới tăng, thành viên nhóm khảo sát cho biết đó là nhờ các điều kiện thị trường cải thiện và khách hàng đã tăng số lượng đơn hàng.
Tuy nhiên, tiếp tục có những báo cáo cho thấy nhu cầu trên thị trường quốc tế vẫn yếu, từ đó khiến số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp. Số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài giảm mạnh và tốc độ giảm là nhanh nhất kể từ tháng 4.
Lượng công việc tồn đọng hầu như không thay đổi trong tháng 9 sau khi đã tăng trong hai tháng trước đó. Trong khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng cùng với việc làm giảm đã tạo áp lực lên công suất của một số công ty, một số công ty khác cho biết số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm lại khiến họ có thể giải quyết được lượng công việc tồn đọng.
Lần giảm việc làm này là lần giảm thứ hai trong hai tháng, khi các thành viên nhóm khảo sát báo cáo tình trạng nhân viên nghỉ việc diễn ra đồng thời với những nỗ lực tái cấu trúc. Tuy nhiên, mức giảm quy mô nhân sự trong tháng 9 chỉ là nhỏ.
Tháng 9 tiếp tục ghi nhận mức tăng đáng kể của hoạt động mua hàng khi các công ty đã mua thêm hàng hóa đầu vào để phục vụ tăng sản lượng. Việc đưa các nguyên liệu vào sản xuất khiến lượng hàng tồn kho đầu vào tiếp tục giảm. Các nhà sản xuất cũng thể hiện mong muốn giảm tồn kho hàng thành phẩm và đã sử dụng dịch vụ chuyển hàng nhanh cho khách hàng để đạt được mục đích này. Đánh giá cho thấy, thực tế tồn kho hàng thành phẩm đã giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ khi khảo sát bắt đầu vào tháng 3/2011.
Trong khi đó, thời gian giao hàng của nhà cung cấp đã bị kéo dài ở mức nhẹ, khi các thành viên nhóm khảo sát cho rằng nguyên nhân chậm giao hàng là do những vấn đề liên quan đến vận tải quốc tế và điều kiện thời tiết xấu.
Những vấn đề quốc tế cũng là nguyên nhân chính khiến chi phí đầu vào tiếp tục tăng khi cuộc xung đột ở Trung Đông đã làm giá nhiên liệu và dầu tăng. Chi phí vận chuyển tăng cũng đã được nhắc đến. Tốc độ tăng giá đầu vào là đáng kể và nhanh hơn một chút so với tháng 8, mặc dù vẫn là một trong số các tốc độ tăng chậm nhất trong năm vừa qua.
Kỳ vọng các điều kiện thị trường sẽ cải thiện đã hỗ trợ cho niềm tin rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới. Kế hoạch đưa ra các sản phẩm mới cũng hỗ trợ cho tâm lý lạc quan và tâm lý kinh doanh đã đạt mức cao nhất kể từ tháng 2.
Theo ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, trong khi ngành sản xuất Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng trong tháng 9, dữ liệu cho thấy môi trường quốc tế đã kìm hãm tốc độ tăng trưởng. Bất chấp những trở ngại này, sản lượng tiếp tục tăng đáng kể và các công ty có tâm lý lạc quan hơn về triển vọng sản lượng trong năm tới.
Dựa trên mối liên hệ lịch sử giữa chỉ số PMI và các dữ liệu thống kê chính thức, ngành sản xuất có thể tiếp tục đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng GDP trong quý III năm 2026 và tiềm năng tăng trưởng sẽ tiếp tục mạnh hơn nếu môi trường quốc tế cải thiện.