Theo công văn, triển khai Kết luận của Bộ trưởng Bộ Công Thương tại buổi làm việc với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường để thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Bộ Công Thương đã xây dựng Kế hoạch mở cửa thị trường và xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm giai đoạn cuối năm 2026.
Theo kế hoạch, mục tiêu xúc tiến thương mại thời gian còn lại của năm 2026 như sau:
Tốc độ tăng trưởng: phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa khoảng 15 - 16% năm 2026 để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.
Cân bằng thị trường: giảm mức độ phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, hướng tới không có thị trường đơn lẻ nào chiếm quá 25% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030.
Đa dạng hóa: nâng số lượng thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, phấn đấu mục tiêu từ 45 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD vào năm 2030.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm giai đoạn cuối năm 2026
Công tác mở cửa thị trường, xúc tiến xuất khẩu được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tăng cường hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng các ưu đãi từ Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và các FTA khác; đồng thời nghiên cứu các thị trường mới tại Tây Á, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latin nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Việc mở cửa thị trường, xúc tiến xuất khẩu được chia thành hai nhóm thị trường chiến lược.
Thứ nhất, nhóm thị trường truyền thống, chiến lược (duy trì quy mô và nâng cao chất lượng):
Hoa Kỳ: duy trì vị trí thị trường xuất khẩu lớn nhất nhưng chuyển từ tăng trưởng về lượng sang tăng trưởng có kiểm soát, cân bằng và bền vững. Ưu tiên hoàn tất, triển khai Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng; chủ động xử lý các biện pháp thuế và yêu cầu về xuất xứ, lao động, môi trường. Tập trung hàng công nghệ cao, máy móc, linh kiện và sản phẩm xanh; đồng thời củng cố dệt may, da giày, gỗ, thủy sản và nông sản thông qua nâng cao giá trị gia tăng và kết nối hệ thống phân phối.
Liên minh châu Âu (EU): tận dụng tối đa EVFTA để dẫn dắt quá trình "xanh hóa - chuẩn hóa" hàng hóa Việt Nam. Đối phó hiệu quả với các rào cản mới như Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới (CBAM), Quy định chống phá rừng (EUDR), Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR), Quy định thiết kế sinh thái (ESPR), hộ chiếu số sản phẩm (Digital Product Passport) và các yêu cầu về trách nhiệm doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.
Xác định các thị trường trọng điểm trong EU để tập trung nguồn lực xúc tiến xuất khẩu: Đức và Hà Lan tiếp tục là các cửa ngõ logistics và trung tâm phân phối hàng hóa của châu Âu; Pháp là thị trường có tiềm năng lớn đối với nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hợp tác đầu tư; Italia và Tây Ban Nha là các thị trường quan trọng đối với dệt may, da giày và nông sản; Ba Lan, Séc là cửa ngõ vào khu vực Trung và Đông Âu; các nước Bắc Âu có nhu cầu cao đối với các sản phẩm xanh, hữu cơ và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, xác định các nhóm hàng ưu tiên xúc tiến xuất khẩu đối với thị trường EU.
Trung Quốc: triển khai chiến lược “tiếp cận vùng”, coi mỗi địa phương Trung Quốc là một thị trường để tiếp cận, xúc tiến thương mại nhằm đưa sản phẩm thâm nhập sâu vào hệ thống phân phối. Chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch và xuất khẩu theo hình thức thương mại điện tử qua biên giới; thúc đẩy ký kết các Nghị định thư về kiểm dịch nông lâm thủy sản.
Nhật Bản: khai thác sâu các FTA hiện có (Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản - VJEPA, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN - Nhật Bản - AJCEP, RCEP, CPTPP) gắn với chuyển giao công nghệ, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm hàm lượng giá trị gia tăng cao, theo xu hướng tiêu dùng xanh, bền vững và cung ứng sản phẩm cho xã hội già hóa.
Hàn Quốc: định hướng mở cửa nông sản; mở rộng thực phẩm - thủy sản; phục hồi dệt may, gỗ, cà phê, sắt thép; phát triển thương mại điện tử và công nghiệp hỗ trợ.
ASEAN: xây dựng không gian kinh tế thống nhất, tập trung vào chuỗi cung ứng khu vực và khai thác thị trường Halal (đặc biệt tại Indonesia, Malaysia).
Thứ hai, nhóm thị trường tăng trưởng mới, tiềm năng (bứt phá và đa dạng hóa):
Nam Á (trọng tâm là Ấn Độ): phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 20%/năm, đưa kim ngạch sang khu vực đạt 28 tỷ USD vào năm 2030.
Tây Á: triển khai hiệu quả Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE; tập trung vào nông sản, thực phẩm hàng tiêu dùng, hàng dệt may, thiết bị điện, điện tử và vật liệu xây dựng.
Châu Phi: tập trung vào một số thị trường trọng điểm tại từng khu vực (ví dụ Ai Cập, Ma-rốc, Algeria ở Bắc Phi; Nigeria, Bờ Biển Ngà, Ghana ở Tây Phi; Tanzania, Kenya, Mozambique ở Đông Phi; Nam Phi, Namibia, Angola ở phía Nam), tạo bàn đạp tiếp cận các thị trường ngách. Thúc đẩy thực hiện Ý định thư hợp tác giữa Việt Nam và Algeria tiến tới đàm phán, ký kết Hiệp định thương mại ưu đãi song phương nhằm giảm thuế nhập khẩu cho 20 mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của mỗi nước.
Mỹ Latin: khai thác sâu các thị trường CPTPP (Mexico, Chile, Peru) và các thị trường đang thúc đẩy đàm phán FTA MERCOSUR (Brazil, Argentina...).