Nghiên cứu - Trao đổi

Tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn

Thứ hai, 25/5/2026 | 15:35 GMT+7
Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 ưu tiên phát triển các hướng nghiên cứu có tiềm năng tạo đột phá, góp phần phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong những lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam như công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ.

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định 2555/QĐ-BKHCN phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 (Program for Excellence in Basic Research - PEBR).

Chương trình PEBR được thông qua nhằm phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên trở thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế và kiến tạo môi trường nghiên cứu tiên tiến. Chương trình cũng hướng tới góp phần nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.

Về mục tiêu cụ thể, chương trình đề cập đến việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên có năng lực dẫn dắt các hướng nghiên cứu tiên tiến và tạo ra những kết quả khoa học có ảnh hưởng quốc tế; nâng cao chất lượng và mức độ ảnh hưởng khoa học của nghiên cứu cơ bản Việt Nam; từng bước nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam trong một số lĩnh vực trọng điểm.

Bên cạnh đó, chương trình hướng tới phát triển đội ngũ nhà khoa học trình độ cao, đặc biệt là lực lượng nhà khoa học trẻ có tiềm năng dẫn dắt; tăng cường thu hút chuyên gia quốc tế và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài tham gia triển khai Chương trình PEBR. Chương trình ưu tiên phát triển các hướng nghiên cứu có tiềm năng tạo đột phá, góp phần phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong những lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam như công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ.

Ảnh minh họa

Về các chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực; đến năm 2035 hình thành khoảng 50 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.

Tỷ lệ công bố khoa học trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và hệ thống Nature Index dự kiến tăng khoảng 1,5 lần vào năm 2030 và nâng lên khoảng 2 lần vào năm 2035 so với mức trung bình giai đoạn 2021 - 2025 của từng lĩnh vực khoa học tương ứng…

Bên cạnh đó, đến năm 2030, chương trình sẽ hình thành ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Đến năm 2035, đến năm 2035 hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 5 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 10% và đến năm 2035 có ít nhất 20% nhiệm vụ thuộc các hướng nghiên cứu này có kết quả đủ điều kiện đăng ký sáng chế quốc tế hoặc có khả năng chuyển tiếp sang phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Về phát triển nhân lực khoa học, đến năm 2030, chương trình dự kiến hỗ trợ, bồi dưỡng, kết nối trong hệ sinh sinh thái nghiên cứu của PEBR ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và nhà khoa học trẻ; trong đó có ít nhất 100 nhà khoa học trẻ có khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập mang tầm quốc tế. Đến năm 2035, chương trình hỗ trợ ít nhất 1.000 nhà khoa học, trong đó có ít nhất 200 người có khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập.

Về hợp tác quốc tế, đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế có sự tham gia thực chất của đối tác nước ngoài; đến năm 2035 nâng lên ít nhất 300 nhiệm vụ. Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh sẽ có ít nhất một đối tác quốc tế chiến lược.

Theo Quyết định, việc lựa chọn, tài trợ và đánh giá nhiệm vụ được thực hiện trên cơ sở cạnh tranh, công khai, minh bạch theo tiêu chí xuất sắc khoa học; kết hợp đánh giá chuyên gia với các chỉ số đánh giá khoa học chuẩn hóa theo lĩnh vực được quốc tế thừa nhận như FWCI, CNCI và các chỉ số tương đương.

Chương trình khuyến khích đề xuất từ cộng đồng khoa học trên cơ sở tự do học thuật; ưu tiên những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển khoa học và công nghệ quốc gia; tập trung nguồn lực cho các nhóm nghiên cứu mạnh triển khai các hướng nghiên cứu có tiềm năng đột phá, bảo đảm đầu tư dài hạn.

Chương trình cũng áp dụng phương thức quản lý dựa trên kết quả đầu ra và tác động; thiết lập cơ chế đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ để điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương thức triển khai; chấp nhận rủi ro khoa học phù hợp với đặc thù nghiên cứu cơ bản, phân biệt rõ với vi phạm hành chính, tài chính.

Theo Quyết định, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia là đơn vị chủ trì tổ chức thực hiện chương trình PEBR; có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức đánh giá, lựa chọn nhóm nghiên cứu và theo dõi kết quả thực hiện chương trình.

Các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức khoa học công nghệ liên quan có trách nhiệm phối hợp triển khai chương trình; lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình PEBR vào các chương trình, kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của ngành, lĩnh vực và địa phương.

Chương trình PEBR sẽ được tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2030 làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, quy mô và cơ chế thực hiện cho giai đoạn tiếp theo.

Đình Tú