Trong nước

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân

Thứ bảy, 18/4/2026 | 17:00 GMT+7
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số.

Theo đó, Chính phủ yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường tuyên truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.

Một trong những trụ cột quan trọng là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, giải phóng sức sản xuất và huy động hiệu quả mọi nguồn lực. Chính phủ yêu cầu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với mô hình tăng trưởng mới, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phương thức quản lý nhà nước được chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", đi đôi với xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường giám sát. Hiệu quả thi hành pháp luật được đặt lên hàng đầu, chuyển từ tư duy "tốt trên giấy" sang "tốt trong thực tiễn".

Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. (Ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách, đặc biệt trong các lĩnh vực như đất đai, quy hoạch, đầu tư, thương mại, xây dựng… Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện theo hướng minh bạch, thuận lợi, chi phí thấp; thủ tục hành chính được cắt giảm, số hóa, liên thông, tạo điều kiện tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển năng lượng, đặc biệt là trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng tái tạo. Xây dựng thể chế thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế không gian tầm thấp, kinh tế bạc, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ, kinh tế ban đêm... Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phát triển công nghệ tài chính (Fintech), tài sản mã hoá, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình kinh tế mới nổi khác. Thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong các lĩnh vực mới như công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng, công nghệ số...

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn; chính sách quản lý, sử dụng hợp lý, linh hoạt đất trồng lúa; cơ chế, chính sách về đất đai, đầu tư, bảo hiểm, hợp tác công tư... cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Ưu tiên đầu tư, thử nghiệm, thí điểm các cơ chế, chính sách vượt trội cho các mô hình sản xuất nông nghiệp dựa trên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô sẽ được điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, giữ vững các cân đối lớn và cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống.

Tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hoá chất, công nghệ số, sinh học, công nghiệp hỗ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chip bán dẫn, công nghiệp robot và tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, năng lượng mới...

Ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chip bán dẫn, công nghiệp robot và tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng mới... Phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp chuyên môn hóa và các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn.

Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hóa hệ sinh thái dịch vụ, phát triển một số ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị tăng cao. Xây dựng, phát triển các trung tâm logistics lớn, đạt chuẩn quốc tế, gắn kết chặt chẽ với cảng biển, cảng hàng không trung chuyển quốc tế. Hiện đại hóa hệ thống hạ tầng thương mại, phát triển thương mại điện tử.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả; phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, giá trị gia tăng cao; phát triển thương hiệu các ngành hàng nông sản chiến lược, chủ lực. Tổ chức sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.

Chính phủ xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt. Hệ thống giáo dục được đổi mới toàn diện, chú trọng đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số; đẩy mạnh dạy và học ngoại ngữ, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đồng thời, có cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học phục vụ các ngành mũi nhọn.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là đột phá chiến lược. Chính phủ sẽ hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các rào cản, thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát sẽ được triển khai trong những lĩnh vực mới như Fintech, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số.

Về nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia, quản lý, điều hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia.

Về nhiệm vụ, giải pháp về vay, trả nợ công, triển khai áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro nợ công, nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo thông tin nợ công, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm đầu tư.

Đối với đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030, nguồn lực sẽ được tập trung cho các dự án quan trọng quốc gia, dự án liên vùng, giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn trước, tránh dàn trải. Địa phương được tăng cường phân cấp, chủ động quyết định đầu tư gắn với trách nhiệm giải trình.

Nhã Quyên