Ngày 23/5, tại phường Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị Đánh giá tiềm năng và xúc tiến thương mại, kết nối thị trường tiêu thụ nông sản tỉnh Lâm Đồng với nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia, nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước cùng phân tích, đánh giá tiềm năng và thảo luận đưa ra những câu trả lời: Làm thế nào để nông sản Lâm Đồng nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung ngày càng khẳng định vị thế cả về số lượng và sức mua tại các thị trường ?
Tiềm năng lớn của Lâm Đồng
Với hơn 1 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm các hệ sinh thái nông nghiệp đặc trưng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, Lâm Đồng có nhiều nông sản với diện tích lớn. Hiện tỉnh có trên 10.000 ha hoa, trên 90.000 ha rau các loại, trên 10.000 ha chè, trên 300.000 ha cà phê, trên 12.000 ha maca và trên 110.000 ha cây ăn quả, …Tỉnh có nhiều các sản phẩm nông sản đa dạng và phong phú, nổi bật là rau, củ, quả, tơ tằm, hạt tiêu, điều, cao su, thanh long, nước mắm Phan Thiết, hồng treo gió và các loại thủy hải sản.

Toàn cảnh Hội nghị
Lâm Đồng có điều kiện lý tưởng để phát triển nông nghiệp thông minh, hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao. Tỉnh Lâm Đồng xác định phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, chế biến sâu và chuyển đổi số là định hướng chiến lược; tập trung xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, xanh, bền vững; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp chế biến và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.
Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế tỉnh Lâm Đồng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP chung của tỉnh. Năm 2026, phấn đấu tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 5,01%, góp phần cùng tỉnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 10%-10,5%/năm.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng cho biết: Nhiều ngành hàng chủ lực duy trì tốc độ tăng trưởng khá; sản lượng cà phê hằng năm ước đạt trên 01 triệu tấn; rau khoảng 3,5 triệu tấn; hoa khoảng 4,6 tỷ cành mỗi năm. Cùng với phát triển sản xuất, tỉnh đặc biệt chú trọng phục vụ xuất khẩu, hiện toàn tỉnh có hơn 1.200 mã số vùng trồng và trên 300 mã số cơ sở đóng gói. Nhờ đó, nông sản Lâm Đồng đã có mặt tại nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc.

Chủ trì Hội nghị
Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 945 sản phẩm OCOP; 30 sản phẩm/bộ sản phẩm được cấp sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (CNNTTB) cấp Quốc gia, 75 sản phẩm/bộ sản phẩm cấp Khu vực và 192 sản phẩm/bộ sản phẩm cấp tỉnh. Lâm Đồng hiện có 858 nhãn hiệu “Đà Lạt - kết tinh kỳ diệu từ đất lành” được cấp giấy chứng nhận.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tỉnh Lâm Đồng. Bao gồm: (1) Chưa có đầu mối chủ trì thống nhất, việc triển khai phân tán ở nhiều ngành, nhiều đơn vị dẫn đến thiếu sự điều phối chung, chưa hình thành được chương trình xúc tiến mang tính tổng thể, đồng bộ và hiệu quả chưa cao; (2) Hoạt động xúc tiến thương mại chưa có chiều sâu, thiếu tính liên kết và định hướng dài hạn; (3) Kết nối cung cầu chưa thường xuyên, chưa hình thành chuỗi liên kết bền vững; (4) Năng lực tham gia thị trường của doanh nghiệp, hợp tác xã còn yếu, nhất là trong thương mại điện tử; (5) Công tác xây dựng thương hiệu nông sản chưa tương xứng với tiềm năng.

Để tối ưu hóa giá trị kinh tế, bài toán cốt lõi nằm ở khâu xúc tiến thương mại bài bản và xây dựng kênh tiêu thụ ổn định, bền vững.
Lâm Đồng sau sáp nhập nông sản càng nhiều dư địa thương mại. Trước hết, đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại theo ngành hàng; tăng cường kết nối với hệ thống phân phối lớn, các sàn thương mại điện tử; mở rộng xúc tiến thương mại quốc tế. Cùng với đó, phát triển hệ thống thông tin thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành hàng, cung cấp thông tin kịp thời về thị trường, tiêu chuẩn, rào cản kỹ thuật; Hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã nâng cao năng lực xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, bao bì sản phẩm; Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và tiêu thụ nông sản; phát triển gian hàng số, thương mại điện tử; Tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn, mở rộng thị trường xuất khẩu, phát triển logistics phục vụ tiêu thụ nông sản.
Nông nghiệp xanh và bền vững là xu thế tất yếu
Tây Nguyên là trung tâm gieo trồng cà phê của khu vực, trong đó Lâm Đồng là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, khoảng 314.000 ha đang cho thu hoạch. Năng suất cà phê cao: năng suất trung bình đạt khoảng 3,2 tấn cà phê nhân/ha. Tuy nhiên, còn tồn tại những hạn chế, thách thức. Bao gồm: giá trị gia tăng còn thấp; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; áp lực môi trường gia tăng; phụ thuộc thị trường quốc tế; biến đổi khí hậu cực đoan, và cuối cùng là các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe đặc biệt: EUDR chống phá rừng, Net Zero, lao động bền vững, ESG.

Giới thiệu quảng bá nông sản Lâm Đồng đến các đối tác
Để tận dụng lợi thế và vượt qua thách thức, theo Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) Bạch Thanh Tuấn, ngành cà phê Lâm Đồng cần tập trung vào các mặt sau: Liên kết vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất giữa các nông dân; Coi chất lượng là chiến lược cốt lõi; Xây dựng thương hiệu và kể câu chuyện sản phẩm; Đa dạng hóa và gia tăng giá trị; Hướng tới sự bền vững; Tận dụng hiệu quả các FTAs để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nhóm nghiên cứu đến từ Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên gồm Phan Việt Hà, Đào Thị Lan Hoa, Đinh Thị Tiếu Oanh… lại đặt vấn đề về tiến bộ kỹ thuật. Đối với cà phê, đó là tiến bộ về giống, về quản lý dinh dưỡng, quản lý đất trồng, quản lý nước tưới, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM). Đó còn là các tiến bộ về thu hoạch; các Tiêu chuẩn quốc gia.

Nhiều nội dung có ý nghĩa đã được bàn thảo sôi nổi tại Hội nghị
Nhóm còn nghiên cứu đối với cây dâu, con tằm. Tây Nguyên là vùng dâu tằm lớn nhất cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng (chiếm trên 80% diện tích cây dâu cả nước). Tính đến năm 2024, tổng diện tích trồng dâu toàn tỉnh Lâm Đồng hơn 10.200 ha, trong đó có 2.000 ha áp dụng công nghệ cao, hơn 17.000 hộ nuôi tằm và 78 cơ sở nuôi tằm giống tập trung. Sản lượng kén tằm đạt 16.000 tấn, tăng 4,5% so với năm 2023. Sản phẩm tơ lụa của Lâm Đồng đã có mặt hầu hết ở các địa phương trong cả nước và xuất khẩu tơ sợi, tơ thô sang Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Bangladesh… Năm 2024, sản lượng tơ xuất khẩu đạt 1.800 tấn, kim ngạch đạt 180 triệu USD, đứng thứ hai sau ngành hàng cà-phê…
Theo nhóm nghiên cứu, Lâm Đồng khẳng định quyết tâm giữ vững vị thế đầu tàu cả nước về lĩnh vực đặc thù này, đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm theo chuỗi, phát triển bền vững và gắn với sinh kế của người dân nông thôn. Theo đó, cần tăng cường đầu tư nghiên cứu, chọn tạo giống dâu, giống tằm phù hợp điều kiện sinh thái, đẩy mạnh sản xuất giống gốc, giống cấp 1 đạt tiêu chuẩn để nhằm tăng số lượng hộp trứng tằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của thị trường hiện nay. Tăng cường các hoạt động hợp tác, trao đổi với các tổ chức, đơn vị chuyên môn trong và ngoài nước theo đúng quy định của pháp luật để thúc đẩy sự phát triển của ngành dâu tằm. Ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân thông qua hệ thống khuyến nông, hợp tác xã, mô hình trình diễn có hiệu quả.

Công nghệ sau thu hoạch là một khâu rất quan trọng nhằm nâng giá trị của nông sản
Đó còn là quy hoạch vùng trồng dâu nuôi tằm an toàn, tránh tình trạng canh tác chồng chéo các cây trồng gây khó khăn trong quá trình chăm sóc cây dâu và nuôi tằm. Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm dâu tằm tơ, gắn kết doanh nghiệp chế biến, tạo đầu ra ổn định…
Những tác động và các phương án chủ động ứng xử
Tại Hội nghị, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và Môi trường đã nêu những vấn đề thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam năm 2025 và xu hướng năm 2026. Đó là tình hình xuất/nhập khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) và nhận định, triển vọng các thị trường. Trong đó, đầu năm 2026 - Gia tăng rủi ro địa chính trị, logistics và rào cản kỹ thuật. Các nguyên nhân như: xung đột tại Trung Đông làm hoạt động logistics qua eo biển Hormuz bị đình trệ; Giá năng lượng tăng kéo theo tăng chi phí vận tải, sản xuất hàng hóa, các loại đầu vào và phân bón; Tuân thủ MMPA của Hoa Kỳ đối với thủy sản khai thác; Lệnh 280 của Trung Quốc đối với đăng ký cơ sở sản xuất thực phẩm xuất khẩu.

Các gian hàng nông sản trưng bày bên lề Hội nghị
Còn đại diện Văn phòng SPS Việt Nam, Tiến sĩ Đào Văn Cường nêu dự báo tác động của các quy định (GACC, EUDR, chứng chỉ carbon, MRL) của một số thị trường trọng điểm đối với nông sản thực phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, Thỏa thuận Paris 2015 yêu cầu các quốc gia cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Tác động quy định carbon trong thương mại quốc tế, trong đó tác động trực tiếp tới nông sản, thực phẩm xuất khẩu. Nhưng Việt Nam đang có cơ hội lớn như: lợi thế tự nhiên (rừng, nông nghiệp nhiệt đới, khả năng hấp thụ carbon, nông nghiệp tái sinh); có thể bán carbon từ trồng rừng, lúa giảm phát thải, cà phê bền vững, nông nghiệp hữu cơ; nông sản "xanh" có giá trị cao như organic, GlobalGAP, Fair Trade.

Các gian hàng nông sản trưng bày bên lề Hội nghị
Về dự báo tác động của quy định mức giới hạn dư lượng tối đa (MRL), TS. Cường kết luận: “MRL không còn là quy định kỹ thuật đơn thuần mà là công cụ quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu, hàng rào kỹ thuật thương mại và động lực tái cấu trúc nông nghiệp. Thách thức lớn nhưng cũng là động lực buộc nông nghiệp Việt Nam phải chuyên nghiệp, minh bạch và bền vững hơn. Doanh nghiệp mạnh có vùng nguyên liệu, phòng lab, hệ thống truy xuất sẽ hưởng lợi lớn”.