Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đánh giá, các địa phương vùng ĐBSCL đã quán triệt sâu sắc tinh thần Kết luận 26-KL/TW, từng bước chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động phòng ngừa, thích ứng” với thiên tai.
Theo Bộ trưởng, Kết luận số 26-KL/TW quán triệt rõ 2 quan điểm và 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động xây dựng Kế hoạch thực hiện Kết luận 26-KL/TW.
Đồng thời, Bộ cũng đã hoàn thành dự thảo lần thứ nhất Nghị quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận 26-KL/TW, hiện đang lấy ý kiến các Bộ, ngành và địa phương vùng ĐBSCL trước khi trình Chính phủ vào cuối tháng 5/2026.

Quang cảnh hội nghị
Về đầu tư công trình phòng, chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Bộ Tài chính và các địa phương đề xuất 8 dự án trọng điểm trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030. Trong đó có các dự án lớn như: hệ thống công trình kiểm soát, điều tiết nguồn nước vùng phía Nam quốc lộ 1A; công trình kiểm soát nguồn nước bờ Nam sông Hậu giai đoạn 2; dự án chống ngập úng, sạt lở và thích ứng biến đổi khí hậu cho thành phố Cần Thơ.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, với quan điểm “không thể sạt lở đến đâu, xây dựng kè đến đó, sụt lún ở đâu đắp đập ở đó”, ĐBSCL cần có cách tiếp cận liên vùng, liên tỉnh và tổng thể liên ngành kinh tế; đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng địa phương để giải quyết căn cơ các vấn đề thiên tai của vùng.
Báo cáo của Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho thấy, sạt lở, sụt lún và hạn mặn đang đe dọa nghiêm trọng đến đời sống dân sinh, cơ sở hạ tầng cũng như phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.
Về sụt lún được ghi nhận ở hầu hết vùng ĐBSCL, với tốc độ từ 0,5 - 3 cm/năm. Trong đó, các khu vực ven biển phổ biến ở mức 1,5 - 2,5 cm/năm. Kết quả đo đạc cho thấy, mức độ sụt lún tại ĐBSCL trong 5 năm gần đây dao động từ dưới 5 cm đến trên 10 cm.
Về sạt lở, từ năm 2016 đến nay, toàn vùng xuất hiện 812 điểm sạt lở, tổng chiều dài gần 1.211 km. Trong đó, có 688 điểm sạt lở bờ sông, dài khoảng 751 km; 124 điểm sạt lở bờ biển với chiều dài hơn 459 km. Đáng chú ý, có tới 315 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm, với tổng chiều dài khoảng 619 km. Ngoài ra, tình trạng ngập úng, hạn và xâm nhập mặn cũng diễn biến ngày càng phức tạp.
Tại hội nghị, các địa phương kiến nghị ưu tiên nguồn lực cho những công trình kiểm soát sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn có tính liên vùng, đa mục tiêu và cấp bách đối với ĐBSCL. Đồng thời, đầu tư nâng cấp hệ thống quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm; hỗ trợ xây dựng hệ thống giám sát, điều hành công trình thủy lợi theo thời gian thực, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích và dự báo thiên tai. Các địa phương cũng đề xuất hỗ trợ nghiên cứu, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước và giảm khai thác nước ngầm nhằm phát triển bền vững vùng ĐBSCL.
Để triển khai hiệu quả Kết luận số 26-KL/TW thời gian tới, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đề nghị các địa phương khẩn trương quán triệt, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp thực tiễn; linh hoạt trong quản lý tài nguyên nước, khai thác cát lòng sông, khai thác nước ngầm và quản lý xây dựng ven sông, ven biển trên tinh thần thích ứng, hiệu quả.
Các địa phương cũng cần ưu tiên bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân; rà soát, cung cấp số liệu chính xác về các khu vực có nguy cơ sạt lở, sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn và nhu cầu di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm phòng, chống thiên tai; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông phục vụ quản lý, dự báo và cảnh báo sớm thiên tai. Đồng thời, các địa phương cần tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng và mở rộng hợp tác quốc tế trong quản lý, điều tiết hệ thống sông và vận hành công trình thủy lợi vùng ĐBSCL.