Mục tiêu tổng quát của Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho dữ liệu, nền tảng dữ liệu và hạ tầng tính toán dùng chung theo kiến trúc thống nhất. Phát huy dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, tư liệu sản xuất quan trọng và động lực mới cho quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, điện toán hiệu năng cao và các công nghệ số chiến lược trong phân tích, dự báo, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ thông minh. Phát triển kinh tế dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và thị trường dữ liệu; từng bước tự chủ, làm chủ công nghệ, hạ tầng AI, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, nền tảng và sản phẩm dữ liệu cốt lõi; bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền dữ liệu quốc gia, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.
Mục tiêu đến năm 2030, hoàn thành 100% việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi (luật, nghị định, thông tư) và ban hành đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu; bảo đảm hài hòa giữa tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu với bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…

Ảnh minh họa
100% cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu và dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt hoàn thành việc số hóa, chuẩn hóa, làm sạch theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”; bảo đảm 100% dữ liệu thuộc phạm vi này được đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia và khai thác thống nhất thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia (NDOP), trừ các trường hợp đặc thù được cấp có thẩm quyền cho phép kết nối trực tiếp.
Đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; bảo đảm 100% thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện được cung cấp dựa trên việc khai thác, sử dụng lại thông tin từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia để thực hiện triệt để nguyên tắc “dữ liệu thay giấy tờ”, góp phần cắt giảm thành phần hồ sơ và đơn giản hóa thủ tục hành chính, từng bước hình thành năng lực phân tích, dự báo chiến lược quốc gia phục vụ hoạch định chính sách.
Hoàn thành xây dựng, đưa vào vận hành chính thức 3 Trung tâm dữ liệu quốc gia theo lộ trình tại Nghị quyết số 175/NQ-CP.
Khai thác Kho dữ liệu AI để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp AI và công nghệ dữ liệu Việt Nam; hỗ trợ phát triển, huấn luyện thành công tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và mô hình AI “Make in Vietnam”…
100% các cơ quan nhà nước cấp bộ, cấp tỉnh cung cấp dữ liệu mở bảo đảm chất lượng (không trùng lặp, dư thừa, không tốn công sức và chi phí để xử lý lại dữ liệu, hoặc thu thập lại dữ liệu), thực hiện công bố dữ liệu mở thường xuyên trên Cổng dữ liệu mở quốc gia.
Đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu theo quy định của pháp luật, hình thành thị trường dữ liệu minh bạch, an toàn, có kiểm soát…
Mục tiêu đến năm 2045, 100% hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu; tối thiểu 90% quyết định, chính sách quan trọng được xây dựng, đánh giá và dự báo trên cơ sở phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp toàn trình trên môi trường điện tử; tối thiểu 90% dịch vụ công thiết yếu được cung cấp chủ động, tự động hoặc cá nhân hóa dựa trên dữ liệu; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt từ 99% trở lên.
Việt Nam làm chủ tối thiểu 80% nền tảng, công nghệ và sản phẩm cốt lõi phục vụ quản trị, lưu trữ, xử lý, phân tích và bảo vệ dữ liệu; có năng lực tự chủ về điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng AI, mô hình AI và an ninh dữ liệu. Bên cạnh đó, Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo; trở thành một trung tâm quan trọng trong khu vực về lưu trữ, xử lý, kết nối, chia sẻ và trung chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, Quyết định nêu 8 nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp gồm: xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách; phát triển hạ tầng và nền tảng dữ liệu quốc gia; phát triển dữ liệu; nhiệm vụ cụ thể về phát triển kinh tế dữ liệu và thị trường dữ liệu; nhiệm vụ cụ thể về phát triển nguồn nhân lực dữ liệu; nhiệm vụ cụ thể về bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền dữ liệu; ứng dụng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; tăng cường hợp tác quốc tế về dữ liệu.
Về tổ chức thực hiện, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an là cơ quan thường trực giúp Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Chiến lược dữ liệu quốc gia; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược dữ liệu quốc gia trên phạm vi toàn quốc sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành.
Bộ Công an chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành và phát triển Trung tâm dữ liệu quốc gia, các nền tảng dữ liệu dùng chung, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng tính toán và hạ tầng AI dùng chung quốc gia; tổ chức điều phối, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu thông qua Trung tâm dữ liệu quốc gia và Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu quốc gia. Tổ chức đánh giá, xếp hạng hàng năm mức độ phát triển và chất lượng dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương; tổ chức kiểm toán dữ liệu theo quy định của pháp luật; tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ...