Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 xác định những nhiệm vụ chủ yếu trong công tác phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu thiệt hại, tạo điều kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Kế hoạch là đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về thiên tai, phấn đấu 100% chính quyền các cấp, cơ quan, tổ chức và hộ gia đình được tiếp nhận đầy đủ thông tin và hiểu biết kỹ năng phòng, tránh thiên tai.
Đồng thời, hiện đại hóa năng lực theo dõi, giám sát, dự báo và cảnh báo thiên tai ngang tầm với các quốc gia hàng đầu trong khu vực. Phấn đấu tự động hóa trên 95% đối với các trạm khí tượng, trạm đo mực nước, đo mưa, đo gió trên cao và trên 40% đối với các trạm đo lưu lượng. Dự báo đủ độ tin cậy trước 2 - 3 ngày đối với áp thấp nhiệt đới, trước 3 - 5 ngày đối với bão, trước 2 - 3 ngày đối với lũ trên các hệ thống sông lớn ở Bắc Bộ, trước 1 - 2 ngày đối với lũ trên các hệ thống sông lớn ở Trung Bộ và trước 10 ngày đối với lũ trên các hệ thống sông lớn ở Nam Bộ.
Phấn đấu 100% khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất được rà soát, cập nhật, xác định trên bản đồ cảnh báo; 100% khu vực trọng điểm, xung yếu phòng, chống thiên tai được lắp đặt hệ thống theo dõi, giám sát. 100% tàu cá đánh bắt vùng khơi và vùng lộng được lắp đặt hệ thống giám sát, bảo đảm thông tin liên lạc.

Nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu thiệt hại
Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng, chống thiên tai tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm đồng bộ, thống nhất. Các tổ chức, lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai được kiện toàn theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp; tăng cường đào tạo, tập huấn, trang bị kiến thức, kỹ năng và phương tiện phục vụ công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Bên cạnh đó, Kế hoạch đặt mục tiêu bảo đảm dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai đầy đủ, chính xác, đồng bộ, liên thông và theo thời gian thực; đồng thời xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống hạ tầng phòng, chống thiên tai, ưu tiên đầu tư các công trình kết hợp đa mục tiêu, liên vùng, liên ngành.
Để hoàn thành các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng, củng cố lực lượng, nâng cao năng lực dự báo, rà soát quy hoạch, ứng dụng khoa học, công nghệ, hợp tác quốc tế và đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai.
Trong đó, công tác quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng được chú trọng thông qua tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn kỹ năng phòng, tránh, tổ chức diễn tập và nâng cao khả năng ứng phó tại cơ sở. Xây dựng, rà soát phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo đối với bão mạnh, siêu bão, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất và sạt lở bờ sông, bờ biển.
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong quản lý rủi ro thiên tai; dự báo, cảnh báo, giám sát thiên tai; hỗ trợ điều tra, đánh giá tác động của thiên tai đến phát triển kinh tế - xã hội và tác động của phát triển kinh tế - xã hội đến gia tăng rủi ro thiên tai. Xây dựng cơ chế chính sách, ra quyết định đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai; điều tiết, vận hành theo thời gian thực công trình phòng, chống thiên tai và liên quan đến phòng, chống thiên tai.
Tổ chức nghiên cứu, sử dụng vật liệu tái chế, thân thiện với môi trường; ứng dụng công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái... trong phòng, chống thiên tai. Nghiên cứu xây dựng công trình kiểm soát mặn tại các cửa sông.
Kế hoạch nêu rõ nội dung, biện pháp phòng, chống đối với các loại hình thiên tai chủ yếu. Cụ thể, đối với bão mạnh, siêu bão, các nhiệm vụ tập trung vào rà soát, cập nhật bản đồ ngập lụt nước biển dâng; tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo; thực hiện những biện pháp bảo đảm an toàn dân cư, công trình, tàu thuyền và cơ sở hạ tầng tại khu vực ven biển.
Đối với lũ, ngập lụt, Kế hoạch chú trọng củng cố hệ thống đê điều, hồ đập, công trình phòng, chống ngập; rà soát các khu vực có nguy cơ cao và xây dựng phương án ứng phó phù hợp.
Đối với lũ quét, sạt lở đất, Kế hoạch yêu cầu rà soát, cập nhật, hoàn thiện bản đồ phân vùng nguy cơ; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, giám sát và triển khai các phương án bảo đảm an toàn dân cư tại khu vực có nguy cơ cao.
Đối với sạt lở bờ sông, bờ biển, Kế hoạch xác định nhiệm vụ tăng cường quản lý, ngăn chặn các hoạt động làm gia tăng nguy cơ sạt lở; chủ động rà soát, sắp xếp, di dời dân cư, xây dựng công trình phòng, chống tại những khu vực xung yếu.
Về hạn hán, xâm nhập mặn, các giải pháp tập trung vào quản lý, vận hành hiệu quả hệ thống thủy lợi, hồ chứa, kiểm soát, phân bổ nguồn nước, chủ động bảo đảm nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt, nhất là tại những khu vực thường xuyên thiếu nước.
Thủ tướng cũng yêu cầu lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo từng lĩnh vực.
Về nguồn lực, Kế hoạch xác định các nguồn thực hiện gồm ngân sách nhà nước, Quỹ phòng, chống thiên tai, Quỹ phòng thủ dân sự và các nguồn vốn hợp pháp khác. Tiến độ thực hiện được sắp xếp, phân bổ trong phạm vi nguồn vốn đầu tư phát triển, kinh phí sự nghiệp kinh tế và các nguồn vốn hợp pháp khác bố trí hàng năm.
Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và triển khai thực hiện các nội dung của Kế hoạch theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch; định kỳ rà soát, tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất các biện pháp cần thiết.
Thủ tướng cũng phân công trách nhiệm cụ thể cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan trong công tác ứng phó, tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm nguồn lực và triển khai các nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo chức năng được giao.