Ngày 14/4, Cục Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk phối hợp với báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức diễn đàn “Phổ biến quy định EPR và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, phân bón tại các địa phương”,
Cơ chế EPR (trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) là công cụ chính sách môi trường quan trọng, yêu cầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả giai đoạn sau tiêu dùng. Cơ chế này góp phần thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tại Việt Nam, EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tiếp đó được cụ thể hóa bằng Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP). Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (có hiệu lực từ ngày 25/5/2026).

Bên cạnh yếu tố môi trường và sức khỏe, việc xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật còn gắn chặt với yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn. (Ảnh minh họa)
Phát biểu tại diễn đàn, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, trong các bao bì thuốc bảo vệ thực vật luôn tồn dư một lượng hóa chất nhất định. Nếu không được xử lý đúng cách, các chất này sẽ tích tụ trong đất, thấm vào nguồn nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nông dân và người tiêu dùng.
Không chỉ vậy, hệ sinh thái nông nghiệp cũng bị tác động tiêu cực khi các vi sinh vật có lợi trong đất bị tiêu diệt, còn các loài thủy sinh như cá, tôm, cua có thể bị nhiễm độc hoặc chết nếu tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm. Những hệ lụy này không diễn ra ngay lập tức mà tích tụ theo thời gian, gây ra những rủi ro lâu dài cho môi trường và sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh yếu tố môi trường và sức khỏe, việc xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật còn gắn chặt với yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn. Điều này cũng phù hợp với cam kết quan trọng của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, khi các thị trường xuất khẩu ngày càng đòi hỏi cao về tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm sản xuất.
Theo Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) Lương Ngọc Quang, trong giai đoạn 2022 – 2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng nhưng chỉ khoảng 1.400 tấn được xử lý đúng quy định. Hơn 500 tấn bị người dân tự tiêu hủy và trên 550 tấn vẫn chưa được xử lý.
Dù đã có nhiều nỗ lực như tổ chức hơn 11.700 lớp tập huấn, xây dựng trên 450.000 bể chứa và thu hút hơn 600.000 người tham gia, tình trạng vứt bỏ bao bì bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương vẫn còn phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu đến từ thói quen sinh hoạt, nhận thức hạn chế và hệ thống hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu. Đáng chú ý, vấn đề kinh phí đang là “nút thắt” lớn nhất. Nhiều địa phương có thể thu gom nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ chưa thực sự rõ ràng.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, thời gian qua, nhiều địa phương như Đồng Tháp, Đắk Lắk đã triển khai nhiều mô hình hiệu quả như “cánh đồng không rác thải”, chương trình đổi bao bì lấy quà, xây dựng hàng nghìn điểm thu gom và tổ chức nhiều lớp tập huấn cho người dân. Doanh nghiệp và hợp tác xã cũng tích cực tham gia, từng bước hình thành ý thức trách nhiệm trong cộng đồng sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, hệ thống thu gom và xử lý vẫn còn nhiều hạn chế. Mạng lưới thu gom chưa hoàn chỉnh, cơ chế xử lý chưa thống nhất, trong khi nhận thức của một bộ phận người dân vẫn cần tiếp tục được nâng cao.
Để nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý, lãnh đạo Cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật cho biết sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, phân loại rõ tính chất từng loại chất thải nhằm lựa chọn phương thức xử lý phù hợp, vừa đảm bảo an toàn môi trường vừa tối ưu chi phí cho người dân. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ tiếp thu các ý kiến thực tiễn, hoàn thiện cơ sở khoa học và xây dựng chính sách linh hoạt, góp phần hình thành hệ thống thu gom, xử lý đồng bộ, hiệu quả và khả thi hơn trong thời gian tới.
Trao đổi về cơ chế đóng góp và hướng dẫn thực hiện Nghị định 110/2026/NĐ-CP, ông Đỗ Xuân Thuấn, đại diện Văn phòng EPR Việt Nam cho biết, cơ chế EPR không phải là thuế, phí mà là khoản đóng góp tài chính của doanh nghiệp hỗ trợ xử lý chất thải rắn.
Theo Nghị định 05/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 08/2022/NĐ-CP, trách nhiệm thực hiện EPR đã có điều chỉnh quan trọng. Nếu trước đây doanh nghiệp kê khai và thực hiện trách nhiệm trong cùng một năm, thì nay được chuyển sang cơ chế mới: trách nhiệm của một năm sẽ được thực hiện chậm nhất đến ngày 31/3 của năm kế tiếp, áp dụng cho kỳ nghĩa vụ của năm liền trước. Quy định này cũng được kế thừa và tiếp tục áp dụng trong Nghị định 110/2026/NĐ-CP. Trong năm 2026, việc kê khai đang đi vào ổn định và doanh nghiệp không gặp khó khăn thực hiện trên cơ sở số liệu thực tế năm 2025, đang dần hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ EPR.
Theo ông Đỗ Xuân Thuấn, hệ thống kê khai hiện đã được rà soát, đảm bảo doanh nghiệp có thể thực hiện trước thời hạn 31/3 hàng năm. Trong quá trình kê khai, nếu phát sinh vướng mắc liên quan đến xác định đối tượng hoặc vấn đề kỹ thuật, Cục Môi trường giao Văn phòng EPR hỗ trợ doanh nghiệp; các vấn đề pháp lý do Cục Môi trường sẽ hướng dẫn nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoàn thành kê khai đúng hạn và đúng quy định.
Đối với đề xuất hỗ trợ xử lý chất thải, các địa phương cần lập theo đúng mẫu quy định. Bên cạnh nội dung phân bổ cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt, việc thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật cần báo cáo hai thông số quan trọng gồm diện tích đất trồng cây và diện tích thuộc vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Nghị định cũng quy định rõ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ đúng mục đích, bảo đảm công khai, minh bạch. Ông Thuấn cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ hướng dẫn các tỉnh biểu mẫu báo cáo tiến độ sử dụng khoản kinh phí đã nhận và sử dụng.