Khoa học công nghệ

Việt Nam xếp hạng 43 về đổi mới sáng tạo toàn cầu

Thứ tư, 30/9/2026 | 11:24 GMT+7
Theo Báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) 2026 vừa được công bố, Việt Nam xếp hạng 43/139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025; riêng thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc, từ vị trí 37 lên 35.

Ngày 29/9, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố Báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026. Theo báo cáo, Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025 và đạt mục tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2026.

Trong một thập niên, thứ hạng GII của Việt Nam tăng 16 bậc, từ vị trí 59 năm 2016 lên vị trí 43 năm 2026.

Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ ở vị trí 38. Trong số các nền kinh tế xếp trên Việt Nam, Trung Quốc đứng thứ 10 và Malaysia thứ 34 thuộc nhóm thu nhập trung bình cao; các nước còn lại thuộc nhóm thu nhập cao.

Trong ASEAN, Việt Nam đứng thứ 3, sau Singapore (hạng 5) và Malaysia (hạng 34), trên Thái Lan (hạng 44), qua đó vượt mục tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026. Việt Nam cũng thuộc nhóm 7 nền kinh tế thu nhập trung bình tăng hạng nhanh nhất từ năm 2013 và duy trì 16 năm liên tiếp có kết quả đổi mới sáng tạo vượt mức phát triển.

Sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

GII là bộ chỉ số được WIPO công bố hàng năm, đánh giá năng lực và kết quả đổi mới sáng tạo của các nền kinh tế thông qua các điều kiện đầu vào về thể chế, nhân lực, nghiên cứu, hạ tầng, thị trường, năng lực doanh nghiệp và đầu ra về tri thức, công nghệ, sản phẩm sáng tạo.

Tại Việt Nam, GII được Chính phủ sử dụng như một công cụ quản lý, điều hành; Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối theo dõi, điều phối, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương đề xuất giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo khảo sát của WIPO, 93 quốc gia thành viên đã sử dụng kết quả GII trong xây dựng chiến lược, chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điểm nổi bật trong kết quả năm nay là thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng từ vị trí 37 lên 35. Trong đó, trụ cột sản phẩm tri thức và công nghệ tăng 4 bậc, từ hạng 39 lên 35. Sự cải thiện này góp phần đưa thứ hạng GII chung của Việt Nam tăng 1 bậc.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đánh giá, việc đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy những chính sách và nguồn lực dành cho lĩnh vực này bước đầu phát huy hiệu quả.

Kết quả trên đến từ tinh thần triển khai Nghị quyết 57 rất quyết liệt trong hơn một năm qua. Nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có bước tăng mạnh; hệ thống chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện.

Sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cũng góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Cách tiếp cận trong quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang chuyển từ nặng về đầu vào sang quản lý theo kết quả, hướng đến mục tiêu cuối cùng và hiệu quả thực chất. Nguồn lực được ưu tiên cho nghiên cứu và phát triển, công nghệ cao, công nghệ chiến lược và những lĩnh vực có khả năng tạo tác động lớn đối với sự phát triển của đất nước.

Năm 2026, Việt Nam tiếp tục đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại.

Ba chỉ số khác nằm trong nhóm 10 nền kinh tế dẫn đầu gồm tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao xếp thứ 3; số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được phát triển và sử dụng xếp thứ 5; tốc độ tăng năng suất lao động xếp thứ 6.

Việt Nam cũng có thứ hạng cao ở tỷ lệ chi nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp trang trải đứng thứ 13; tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân đứng thứ 14; mức thuế bình quân gia quyền đứng thứ 15; tổng tư bản hình thành và mức độ đa dạng của sản xuất trong nước cùng đứng thứ 19.

Một số chỉ số đầu vào có mức cải thiện đáng kể. Khả năng truy cập công nghệ thông tin và truyền thông tăng 11 bậc, lên vị trí 66. Tài chính dành cho khởi nghiệp và mở rộng quy mô tăng 6 bậc, lên hạng 44; số thương vụ đầu tư mạo hiểm ở vòng sau tăng 2 bậc, lên hạng 40. Hợp tác nghiên cứu giữa trường đại học và doanh nghiệp tăng 7 bậc, lên vị trí 24. Số nhân viên nghiên cứu trong doanh nghiệp tăng 2 bậc, xếp thứ 49.

Ở nhóm đầu ra, số đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ tăng 3 bậc, lên vị trí 63. Sản lượng công nghệ cao tăng 1 bậc, xếp thứ 25; mức độ phức tạp của sản xuất và xuất khẩu tăng 8 bậc, lên vị trí 44. Giá trị thương hiệu toàn cầu tăng 1 bậc, đứng thứ 28; số đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tăng 3 bậc, lên hạng 48.

Hoạt động khởi nghiệp sáng tạo đã đạt một số kết quả với ba kỳ lân có giá trị hàng tỉ USD và sự xuất hiện của doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển bước đầu được cải thiện; khu vực đại học cũng có chuyển biến trong nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp.

Tiến Đạt