Thay đổi tư duy: Từ "bán cái mình có" sang "thiết kế cái thị trường cần"
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới khi các thị trường nhập khẩu không còn chỉ chú trọng vào giá cả hay chất lượng cảm quan. Xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang các sản phẩm có tính minh bạch cao, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và bền vững.
Theo ông Phùng Văn Thành, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Philippines, ngành nông nghiệp cần thực hiện cơ cấu lại sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Ông nhấn mạnh việc đẩy mạnh chế biến sâu, giảm xuất khẩu thô và tăng cường đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ nước nhập khẩu như tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc là điều kiện tiên quyết để duy trì và mở rộng thị phần.

Xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang các sản phẩm có tính minh bạch cao, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và bền vững
Đồng quan điểm này, ông Bùi Hải Nam, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại Hàn Quốc cho biết, dù thị trường Hàn Quốc nhập khẩu gần 50 tỷ USD nông lâm thủy sản mỗi năm nhưng Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 4,7% thị phần. Ông Nam nhận định dư địa còn rất lớn nhưng doanh nghiệp cần thay đổi tư duy tiếp cận: "Từ bán cái mình có đến thiết kế cái thị trường cần". Người tiêu dùng tại các thị trường cao cấp như Hàn Quốc ngày càng quan tâm đến sức khỏe, sự tiện lợi và đặc biệt là các giá trị nhân văn, môi trường đằng sau mỗi sản phẩm.
Tại thị trường Nhật Bản, ông Vũ Cường, Tham tán nông nghiệp và môi trường Việt Nam tại Nhật Bản lưu ý rằng đây là quốc gia thường xuyên cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm, bao bì và phụ gia. Việc chủ động cập nhật thông tin và điều chỉnh sản xuất theo sát các thay đổi chính sách nhập khẩu là yêu cầu bắt buộc để hạn chế rủi ro và giữ vững lòng tin của đối tác.
Một trong những vấn đề cốt lõi hiện nay là việc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những cách hiểu chưa chính xác về vai trò của công cụ này.
Làm rõ vấn đề này, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khẳng định, truy xuất nguồn gốc không phải là "luồng xanh" hay một cơ chế ưu tiên riêng biệt trong xuất khẩu. Ông Long nhấn mạnh: "Truy xuất nguồn gốc chỉ là một trong những công cụ giúp chứng minh sản phẩm được sản xuất theo đúng quy trình, được kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng".
Thực tế, truy xuất nguồn gốc không thay thế các thủ tục kiểm dịch hay tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng đầy đủ các nghị định thư và quy định của nước nhập khẩu. Dù vậy, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu gần như bắt buộc để nông sản có thể thâm nhập vào các chuỗi cung ứng hiện đại. Tính đến ngày 12/6/2026, hệ thống đã ghi nhận hơn 18.500 sản phẩm thuộc 112 nhóm sản phẩm, kết nối dữ liệu của hàng trăm vùng trồng và doanh nghiệp tại 26 tỉnh, thành phố.
Đáng chú ý, để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi công hàm tới Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) giới thiệu hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam nhằm thúc đẩy kết nối dữ liệu và hướng tới việc công nhận lẫn nhau, tạo thuận lợi tối đa cho thông quan.
Lộ trình cho tương lai xanh và bền vững
Nhằm đưa công tác quản lý đi vào thực chất, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang quyết liệt chỉ đạo hoàn thiện hạ tầng số cho nông nghiệp. Tại cuộc họp tiến độ ngày 10/6/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đã yêu cầu các đơn vị phải "tăng tốc" để hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản có thể "lên sóng" chính thức từ ngày 1/7/2026.
Thứ trưởng chỉ rõ, dù đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng tiến độ kết nối và chuẩn hóa dữ liệu vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Ông yêu cầu phải khẩn trương vá các lỗ hổng về an toàn thông tin và hoàn tất đồng bộ dữ liệu chuyên ngành trước ngày 22/6/2026. Thứ trưởng Hoàng Trung khẳng định: "Việc triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lâu dài đối với quản lý ngành và phát triển thị trường nông sản".
Trong giai đoạn đầu, hệ thống sẽ tập trung thí điểm tại 3 - 5 địa phương và ít nhất 10 doanh nghiệp, ưu tiên các mặt hàng chủ lực như sầu riêng, lúa gạo, thịt và thủy sản. Theo ông Nguyễn Bảo Trung, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hạ tầng kỹ thuật đã cơ bản sẵn sàng, bao gồm cả dữ liệu về mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói nhưng cần đánh giá an toàn thông tin toàn diện trước khi vận hành rộng rãi.
Bên cạnh đó, các giải pháp công nghệ tiên tiến như Blockchain cũng đang được tích hợp để nâng cao tính bảo mật và độ tin cậy của dữ liệu. Việc xã hội hóa, tận dụng các nền tảng có sẵn như CheckVN hay iCheck cũng được khuyến khích để tránh lãng phí và rút ngắn thời gian triển khai.
Việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn là nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện ngành nông nghiệp, giúp minh bạch hóa thị trường nội địa và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng.
Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp lý, quy chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật về truy xuất nguồn gốc cho từng loại sản phẩm; đẩy mạnh tập huấn cho nông dân và hợp tác xã về kỹ năng cập nhật dữ liệu theo thời gian thực; tăng cường hợp tác quốc tế để công nhận dữ liệu truy xuất nguồn gốc với các đối tác lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Với sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ và sự chủ động của các doanh nghiệp, nông sản Việt Nam đang dần hoàn thiện những "tấm vé" cần thiết để không chỉ đi xa hơn mà còn đứng vững tại những thị trường khó tính nhất thế giới.